Like page
Tin tức Trending

Blog Post

Mẹo nhỏ

Xây dựng nền kinh tế số trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 

Xây dựng nền kinh tế số trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

1. Công nghiệp 4.0 và kinh tế số

Có thể thấy rằng phần lớn các nội dung của Cách mạng công nghiệp 4.0 liên quan đến ứng dụng công nghệ số, cũng có nghĩa là liên quan đến việc xây dựng và phát triển nền kinh tế số, nhất là những nội dung thuộc vào lĩnh vực kỹ thuật số.

Quan hệ giữa big data, học máy và internet vạn vật (IoT)

Big data là một tập dữ liệu có các đặc trưng đặc biệt, được xử lý (lưu trữ, tính toán, chuyển dạng) và được phân tích để tìm ra thông tin tri thức mới lạ, hữu dụng từ dữ liệu bằng các quy trình hoặc công cụ đặc biệt nhằm phục vụ dự báo và hỗ trợ các quá trình ra quyết định. Đặc trưng đặc biệt của big data được thể hiện bởi năm chữ “V” bao gồm Volume: khối lượng dữ liệu; Velocity: tốc độ vào ra dữ liệu; Variety: tính đa dạng của dữ liệu; Veracity: tính xác thực, khả dụng của dữ liệu và Value: thể hiện chất lượng, giá trị của dữ liệu.

Do dung lượng (Volume) của big data là rất lớn, cấu trúc dữ liệu đa dạng nên các big data thường được tổ chức lưu trữ phân tán và được tổng hợp lại bằng phần mềm theo mục tiêu của phân tích dữ liệu. Dữ liệu mới được tạo ra và việc dịch chuyển dữ liệu mới với tốc độ (Velocity) thời gian thực theo cách thức hàng loạt (hay lô), theo quy trình hoặc theo dòng. Các công nghệ xử lý big data được yêu cầu phải đảm bảo có thể thực hiện các hoạt động phân tích dữ liệu ngay tại thời điểm dữ liệu được tạo ra mà có thể nó chưa được cập nhật vào các cơ sở dữ liệu. Dữ liệu trong các big data rất đa dạng (Variety) về nội dung, nó phản ánh rất nhiều yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội cũng như rất đa dạng về hình thức thể hiện ở kiểu dữ liệu bao gồm dữ liệu có cấu trúc (như dữ liệu số, dữ liệu số dạng bảng,…) và dữ liệu không có cấu trúc (như các văn bản, hình ảnh, video, dữ liệu cảm biến, v.v.). Để dữ liệu trong các big data được xác thực (Veracity) theo độ tin cậy, theo quy trình, xuất xứ, uy tín, tính khả dụng và được giải trình thì các quy trình và các công cụ xử lý big data cần kiểm soát được chất lượng và độ chính xác của dữ liệu. Giá trị, chất lượng của dữ liệu (Value) là rất quan trọng để từ đó trích xuất được những thông tin, tri thức đắt giá(1).

Có thể nói, big data và học máy là đôi bạn song hành. Không có thuật toán học máy sẽ không thể thực hiện được các hoạt động phân tích và dự báo trên các big data. Nhưng nếu không có big data thì các thuật toán học máy cũng không có nhiều giá trị. Big data là mạch máu của các hệ thống AI, là tiền đề của các thuật toán học máy. Càng có nhiều dữ liệu để ứng dụng AI thì kết quả càng chính xác. Trước đây, thuật toán học máy không hoạt động tốt do bộ xử lý chậm và bộ dữ liệu nhỏ. Không có cảm biến để thu thập dữ liệu như ngày nay và không có dữ liệu thời gian thực vì internet không có sẵn và được sử dụng rộng rãi. Hiện nay, đã có mọi thứ mà chúng ta cần; bộ vi xử lý nhanh, thiết bị đầu vào mạnh, mạng và lượng dữ liệu khổng lồ. Sự đồng hành của big data và học máy làm cho càng có nhiều dữ liệu, càng xuất hiện nhiều câu hỏi và câu trả lời càng tốt hơn..

Big data, AI và IoT nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh(2)

2. Thực trạng phát triển nền kinh tế số ở Việt Nam hiện nay

Chỉ số tiến bộ số DEI 2017

DEI 2017 là một đánh giá tổng thể dựa trên dữ liệu về tiến trình của nền kinh tế số của các quốc gia, kết hợp hơn 100 chỉ số khác nhau trên bốn động lực chính: điều kiện cung cấp, điều kiện nhu cầu, môi trường thể chế và đổi mới. Khung DEI phân chia 60 quốc gia thành Nổi bật (Stand Outs) , Đình trệ (Stall Outs), Bứt phá (break Outs) và Cảnh giác (Watch Outs)(5). Các quốc gia nổi bật (Stand out) đều có tiến bộ số cao và thể hiện đà tiến bộ số cao. Đó là những người đi đầu trong việc thúc đẩy sự đổi mới, dựa trên những lợi thế hiện có của họ theo những cách hiệu lực và hiệu quả. Các quốc gia đình trệ (Stall Out) có tiến bộ số cao trong khi thể hiện đà tiến bộ số chậm lại. Các quốc gia bứt phá (Break Out) có điểm số thấp trong tình trạng số hóa hiện tại nhưng đang phát triển nhanh chóng. Nhóm quốc gia Ngập ngừng (Watch out), đó là các quốc gia có tình trạng số hóa thấp và đà tiến bộ số cũng thấp.

Việt Nam, Inđônêxia, Philipin, Maxlaixia, Trung Quốc, Nga,… (Hình 1) nằm trong Nhóm quốc gia bứt phá, nhưng tiến bộ số ở Việt Nam là thấp hơn nhiều so với các nước đã nêu và đang nằm sát với Nhóm quốc gia Ngập ngừng (Watch out).

Cụ thể hơn, kết quả xếp hạng theo DEI  và xếp hạng về đà tăng của chỉ số này ở năm 2017 được chỉ ra trong Bảng 1(a), 1(b) tương ứng.

Phân tích nguyên nhân về chỉ số DEI cao (Hình 1) người ta nhận thấy rằng các quốc gia phát triển cao (chẳng hạn các nước trong Liên minh châu Âu -EU) đều có sự tham gia cao của chính phủ và các nhà hoạch định chính sách trong việc định hình các nền kinh tế số. Một số quốc gia xếp hạng thấp về tự do chính trị và tự do dân sự nhưng đà phát triển kinh tế số vẫn rất cao là do chính phủ ở những quốc gia đó đóng vai trò rất mạnh trong mọi khía cạnh đời sống kinh tế – xã hội.

b. Thực trạng số hóa trong các cơ quan nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế – xã hội ở Việt Nam

Số hóa trong các cơ quan nhà nước

Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin giai đoạn 1996-2000 là chương trình tổng thể đầu tiên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) ở nước ta. Nội dung của chương trình này tập trung vào 5 trụ cột chủ yếu là: (1) Chuẩn hóa thông tin, dữ liệu và xây dựng chính sách đẩy mạnh ứng dụng CNTT; (2) Xây dựng hạ tầng CNTT quốc gia và kết nối mạng Internet toàn cầu; (3) Xây dựng 6 cơ sở dữ liệu quốc gia quan trọng; (4) Tin học hóa hành chính nhà nước; (5) Phát triển nguồn nhân lực CNTT, thành lập khoa CNTT ở một số trường đại học. Chương trình này tập trung vào ứng dụng CNTT trong kinh tế – xã hội và được xem là chương trình có cách tiếp cận hệ thống, toàn diện và đầy đủ nhất từ trước đến nay. Vào thời điểm đó, một số nước trong khu vực (Thái lan, Malaixia) đã sang tham khảo và học tập kinh nghiệm. Có thể nói rằng, nền kinh tế số ở Việt Nam đã được bắt đầu triển khai xây dựng từ thời điểm này.

3. Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế số ở Việt Nam

Thứ nhất, Nhà nước, Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách cần làm tốt vai trò của mình trong xây dựng và phát triển nền kinh tế số

Trong nền kinh tế thị trường, chính phủ điều hành nền kinh tế chủ yếu bằng công cụ chính sách, hết sức hạn chế sử dụng các công cụ hành chính. Quan điểm này càng cần được tôn trọng khi xây dựng nền kinh tế số bởi nền kinh tế này tiến bộ rất nhanh, cần sự năng động của toàn xã hội, trong đó đặc biệt là cộng đồng của doanh nghiệp, nhưng sự năng động ấy cần được định hướng, chỉ đạo để phát huy hiệu quả kinh tế và xã hội.

Chính phủ cần nhanh chóng ban hành các chính sách nhằm khuyến khích, đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ số vào những ngành kinh tế có lợi thế so sánh quốc tế cao và có thể hình thành ngành kinh tế mới dựa chủ yếu vào các ứng dụng và phát triển các công nghệ số trên cơ sở tận dụng cơ hội dân số vàng ở Việt Nam.

Thứ hai, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho việc xây dựng nền kinh tế số ở Việt Nam

Việt Nam đang ở trong giai đoạn dân số vàng, giai đoạn rất hiếm có trong lịch sử của một dân tộc. Ở giai đoạn này, lực lượng lao động trẻ chiếm tỷ trọng rất cao trong lực lượng lao động của toàn xã hội. Với lực lượng lao động là trẻ họ sẽ dễ tiếp thu và chiếm lĩnh được tri thức tiến bộ khoa học của thời đại.

Việc đào tạo nhân lực phục vụ xây dựng nền kinh tế số ở Việt Nam phải được định hướng, chỉ đạo theo trước hết nhằm phục vụ chiến lược, kế hoạch xây dựng nền kinh tế số ở Việt Nam mà trước tiên là ứng dụng những thành tựu tiên tiến của công nghệ số nhằm nâng cao năng suất, đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế có lợi thế cạnh tranh và xây dựng ngành kinh tế mới.

Đội ngũ cán bộ làm công tác hoạch định chính sách về phát triển nền kinh tế số cần phải có hiểu biết về nền kinh tế số và không ngừng được cập nhật thông tin về công nghệ số tiềm năng để chính sách được ban hành có tính hệ thống, nhất quán, thực tiễn và tính khả thi cao.

Thứ ba, đẩy mạnh việc số hóa các hoạt động kinh tế – xã hội, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước và cộng đồng các doanh nghiệp

Trước mắt cần có những quy định, hướng dẫn để các tổ chức, cá nhân (nhất là các cơ quan nhà nước) tổ chức thực hiện lưu giữ, số hóa những nguồn dữ liệu được hình thành trong quá trình hoạt động này, sau đó số hóa hồi cố những nguồn dữ liệu quan trọng khác có giá trị như là các tài sản có giá trị cần được gìn giữ, bảo tồn và/hoặc có giá trị nghiên cứu, tham khảo trong các quá trình ra quyết định, xây dựng chủ trương chính sách, chiến lược phát triển ở phạm vi quốc gia cũng như địa phương.

Củng cố và hoàn thiện các CSDL lớn đã được xây dựng và đang phục vụ công tác chỉ đạo điều hành ở các bộ, ngành và địa phương và từ các CSDL này cũng như từ CSDL các văn bản pháp quy và các số liệu điều tra khác mà bộ, ngành và địa phương thực hiện để hình thành các kho dữ liệu cho các hoạt động phân tích và dự báo. Cần xây dựng cơ chế, quy định chính sách để các tổ chức, cá nhân khác cũng có thể được sử dụng các kho dữ liệu như vậy của các bộ, ngành và địa phương.

Related posts

Trả lời

Required fields are marked *